Bản án về tội cho vay lãi nặng
Bản án về tội cho vay lãi nặng
Bản án về tội cho vay lãi nặng
Bản án về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự số 09/2022/HSSTTOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
BẢN ÁN 09/2022/HSST NGÀY 26/01/2022 VỀ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
Ngày 26/01/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 161/2021/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2021/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
BẢN ÁN 09/2022/HSST NGÀY 26/01/2022 VỀ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
Ngày 26/01/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 161/2021/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2021/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối
Bản án về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự số 09/2022/HSSTTOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
BẢN ÁN 09/2022/HSST NGÀY 26/01/2022 VỀ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
Ngày 26/01/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 161/2021/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2021/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với:
Bị cáo Đặng Quốc D, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Số nhà **, tổ 10, phường PL, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Quốc Hồng; Con bà Mai Thị Loan; Có vợ là Nguyễn Thu H; Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/6/2021 đến ngày 02/7/2021, bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thu H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số nhà **, tổ 10, phường PL, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Có mặt tại phiên tòa).
2. Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ N, phường TM, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Anh Vũ Hải N, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ 12, phường H, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
4. Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Phố B, xã M, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
5. Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số nhà **, ngõ 11, đường L, tổ 10, phường Phương Lâm, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
6. Anh Bùi Xuân T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ 2, phường Q, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
7. Chị Bùi Thị C, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ 16, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
8. Chị Đinh Thị T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ 9, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
9. Anh Phan Tuấn A, sinh năm 1991; Địa chỉ: Xóm X, xã H, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
10. Ông Nguyễn Trần Đ, sinh năm 1976; Địa chỉ: Xóm D, xã L, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
11. Bà Vũ Thị Ngân H, sinh năm 1975; Địa chỉ: Tổ a, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
12. Bà Trần Thị H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số nhà 4, ngõ **, tổ 10, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
13. Chị Lê Thu H, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số nhà **, tổ 3, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
14. Anh Bùi Đức T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Xóm T, phường T, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
15. Chị Phan Thị N, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ **, phường K, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
16. Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Phòng **, chung cư AB, cảng C, phường Thịnh Lang, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
17. Anh Bùi Văn L, sinh năm 1994; Địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
18. Chị Phạm Thị H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số nhà **, tổ 8, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
19. Anh Bùi Văn T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ b. Phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
20. Anh Bùi Đức S, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ T, phường TM, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
21. Anh Bùi Hữu H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ 9, phường Tân Thịnh, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
22. Anh Nguyễn Ngọc C – Sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ b, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
1. Chị Bùi Thị Bích P – Sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ **, phường H, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Tiến L – Sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ **, phường H, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
3. Anh Nguyễn Trung H – Sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ T, phường T, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
4. Anh Ngô Văn T – Sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ **, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
5. Anh Bùi Đức A – Sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ **, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
6. Anh Dương Công D – Sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ TL, phường TM, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
7. Anh Phạm Bá Q – Sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ T, phường TM, phường Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
8. Anh Đinh Viết T – Sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ **, phường TM, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/6/2021, Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Hòa Bình thực hiện Quyết định khám người theo thủ tục hành chính đối với Đặng Quốc D, phát hiện trong điện thoại của Dũng có nhiều tin nhắn về việc cho vay lãi. Cùng ngày, Đặng Quốc D đến cơ quan công an đầu thú về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Trên cơ sở các tài liệu điều tra xác định: Đặng Quốc D sử dụng nguồn tiền của cá nhân, thực hiện hành vi cho vay lãi nặng từ khoảng giữa năm 2018, tại nhà ở thuộc tổ 10, phường Phương Lâm, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Tùy vào mối quan hệ và hình thức vay mà Dũng đưa ra mức thỏa thuận lãi suất khác nhau. Ban đầu Dũng cho khách vay mà không ghi chép lại, chỉ ghi nhớ để thu tiền lãi và gốc. Đến tháng 11/2020, Dũng mua phần mềm ag.mecash.vn quản lý Cầm đồ trên mạng internet. Dũng tạo tài khoản 0974.274.688 – Cầm đồ 69 để quản lý việc cầm đồ cho vay lãi. Sau khi cho khách vay tiền, thỏa thuận mức lãi suất, vòng đóng tiền lãi, Dũng cập nhật thông tin vào trong phần mềm với trang quản lý tại máy tính tại nhà Dũng.. Với phương thức như trên, Đặng Quốc D cho nhiều người vay với mức lãi suất khác nhau.
Cụ thể:
* Cho vay mức lãi suất vượt quá 5 lần lãi suất cho phép (20%) theo quy định của Bộ luật dân sự:
Đặng Quốc D cho 14 người vay với mức lãi suất từ 109,5%/năm – 255,5%/ năm vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự ( 20%) từ 5,475 lần - 12,7 lần, cụ thể:
1. Ngày 27/11/2020 Đặng Quốc D cho chị Bùi Thị C vay số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) với lãi suất 6.000đ/1 triệu đ/ngày tương đương với lãi suất 214.182%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 10,709 lần, đến ngày 14/6/2021 thời hạn vay là 200 ngày, chị Cảnh đã phải trả số tiền lãi là 5.868.000đ (năm triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là 547.945,205đ (năm trăm bốn mươi bảy nghìn chín trăm bốn mươi lăm phẩy hai trăm linh năm đồng), số tiền thu lời bất chính là 5.320.054,795đ ( năm triệu ba trăm hai mươi nghìn không trăm năm mươi tư phẩy bày trăm chín mươi lăm đồng).
Đến nay số tiền gốc 5.000.000đ chị Cảnh đã thanh toán cho Đặng Quốc D.
2. Đặng Quốc D cho chị Đinh Thị T vay các khoản tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 14/12/2020 Dũng cho chị Thắm vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), với lãi suất 6.000đ/1 triệu/ngày tương đương với lãi suất 219%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 10,95 lần, đến ngày 23/3/2021 thời hạn vay là 100 ngày, Chị Thắm đã phải trả số tiền lãi là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là 547.945,205đ ( năm trăm bốn mươi bảy nghìn chín trăm bốn mươi lăm phẩy hai trăm linh năm đồng), số tiền thu lời bất chính là 55.452.054,795 đồng.
Lần 2: Ngày 19/01/2021 Dũng tiếp tục cho chị Thắm vay số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), lãi suất 6.000đ/1 triệu/ngày tương đương 219%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 10,95 lần, đến 22/3/2021 thời hạn vay 63 ngày, chị Thắm đã trả lãi số tiền lãi là 3.780.000đ ( Ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng). Số tiền lãi được thu theo quy định là 345.205,479đ ( Ba trăm bốn mươi năm nghìn hai trăm linh năm phẩy bốn trăm bảy mươi chín đồng), số tiền thu lời bất chính là 3.434.794.521 đồng.
Lần 3: Ngày 22/3/2021 chị Thắm xin gộp tiền gốc 02 khoản vay (lần 1 + lần 2) thành số tiền vay mới là 20.000.000 đ ( hai mươi triệu đồng), lãi suất vẫn như thỏa thuận trước, tương đương với lãi suất 214.438%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 10,722 lần, đến 09/6/2021 thời hạn vay 80 ngày. Chị Thắm đã trả tiền lãi là 9.400.000đ ( Chín triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là 876.712,329đ ( Tám trăm bảy mươi sáu nghìn bảy trăm mười hai phẩy ba trăm hai mươi chín đồng), số tiền thu lời bất chính là 8.523.287,671 đồng.
Số tiền gốc 20.000.000đ chị Thắm đã thanh toán cho Dũng.
3. Đặng Quốc D cho chị Phan Thị N vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 04/12/2020 Dũng cho chị Ngọc vay số tiền 15.000.000 đồng ( Mười năm triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 5.000đ/1 triệu/ngày, tương đương 182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần,đến 24/02/2021 thời hạn vay 83 ngày. Chị Ngọc đã trả lãi là 6.225.000đ ( Sáu triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định 682.191,781đ ( Sáu trăm tám mươi hai nghìn, một trăm chín mươi mốt phẩy bảy trăm tám mươi mốt đồng), số tiền thu lời bất chính là: 5.542.808,219 đồng.
Số tiền gốc 15.000.000đ chị Ngọc đã trả cho Dũng.
Lần 2: Ngày 06/4/2021 Dũng cho chị Ngọc vay số tiền 5.000.000 đồng ( Năm triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 5.000đ/1 triệu/ngày tương đương 194,667%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,733 lần, đến 05/05/2021 thời hạn vay 30 ngày Chị Ngọc đã trả lãi là 800.000đ ( Tám trăm nghìn đồng), số tiền lãi được hưởng theo quy định 82.191,781đ (Tám mươi hai nghìn, một trăm chín mươi mốt phẩy bảy trăm tám mươi mốt đồng), số tiền thu lời bất chính là 717.808,219 đồng.
Lần 3: Ngày 06/5/2021 Dũng cho chị Ngọc vay thêm 5.000.000 đồng ( Năm triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 3.000đ/1 triệu/ngày tương đương182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần. Đồng thời xin gộp tiền gốc 02 khoản vay ( lần 2 + lần 3) thành số tiền vay 10.000.000đ (mười triệu đồng), đến 25/05/2021 thời hạn vay 20 ngày. Chị Ngọc đã lãi là 1.000.000đ ( Một triệu đồng), số tiền lãi được hưởng theo quy định là 242.424,242đ (Hai trăm bốn mươi hai nghìn bốm trăm hai mười bốn phẩy hai trăm bốn mươi hai đồng), Số tiền thu lời bất chính là 757.257,758 đồng.
Lần 4: Ngày 26/5/2021 chị Ngọc tiếp tục vay thêm 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 3.000đ/1 triệu/ngày tương đương 182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần. Đồng thời xin gộp tiền gốc 02 khoản vay ( lần 3 + lần 4) thành số tiền vay 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), đến 24/6/2021 thời hạn vay 30 ngày. Chị Ngọc đã trả lãi là 2.250.000đ ( Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền lãi được hưởng theo quy định là 246.575.342đ (Hai trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm bảy mươi lăm phẩy ba trăm bốn mươi hai đồng), số tiền thu lời bất chính là 2.003.424,658 đồng.
4. Đặng Quốc D cho anh Bùi Xuân T vay số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 5.000đ/1 triệu/ngày, tương đương 178,776%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 8,939 lần. Đến 20/6/2021 thời hạn vay 210 ngày, anh Thành đã trả lãi là 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng), số tiền lãi được hưởng theo quy định là 805.479,452đ (Tám trăm linh năm nghìn bốn trăm bảy mươi chín phẩy bốn trăm năm mươi hai đồng), số tiền thu lời bất chính là 6.394.520,548 đồng.
5. Ngày 05/12/2020 Dũng cho chị Vũ Thị Ngân H vay số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 5.000đ/1 triệu/ngày tương đương182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần, đến 22/6/2021 thời hạn vay 200 ngày. Chị Huyền đã trả lãi là 7.000.000đ ( Bảy triệu đồng). Số tiền lãi hưởng theo quy định là 767.123,288đ (Bảy trăm sáu mươi bẩy nghìn một trăm hai mươi bai phẩy hai trăm tam mươi tám đồng, số tiền thu lời bất chính là 6.232.876,712 đồng.
Hiện chị Huyền đang còn nợ số tiền vay gốc là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
6. Đặng Quốc D cho anh Nguyễn Trần Đ vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 06/3/2021 Dũng cho anh Đông vay số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 6.000đ/1 triệu/ngày tương đương 208,571%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 10,429 lần, đến 26/3/2021 thời hạn vay 21 ngày, anh Đông đã trả lãi là 2.400.000 (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền được hưởng theo quy định là 230.136,986 (Hai trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi sáu phẩy chín trăm tám mươi sáu đồng), số tiền thu lời bất chính là 2.169.863,014 đồng.
Lần 2: Ngày 26/3/2021 Đông trả cho Dũng 10.000.000đ tiền gốc đối với khoản nợ lần 1, còn nợ lại số tiền gốc là 10.000.000đ ( mười triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 6.000đ/1 triệu/ngày tương đương 255,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 12,775 lần, đến 31/3/2021 thời hạn vay 06 ngày, anh Đông đã trả lãi là 420.000đ (Bốn trăm hai mươi nghìn), số tiền được hưởng theo quy định là 32.876,712đ (Ba mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi sáu phẩy bảy trăm mười hai đồng), số tiền thu lời bất chính là 387.123,288 đồng.
Lần 3: Ngày 16/5/2021 Dũng tiếp tục cho anh Đông vay 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 6.000đ/1 triệu/ngày tương đương 219%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 10,95 lần, đến 24/6/2021 thời hạn vay 40 ngày, anh Đông đã trả lãi là 4.800.000đ (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng), số tiền được hưởng theo quy định là 438.356,164đ (Bốn trăm ba mươi tám nghìn ba trăm năm mươi sáu phẩy một trăm sáu mươi tư đồng), số tiền thu lời bất chính là 4.361.643,836 đồng.
Hiện tại anh Đông đã trả hết tiền gốc cho Dũng 7. Đặng Quốc D cho anh Phạm Tuấn A vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 30/11/2020 Dũng cho anh Tuấn Anh vay số tiền 5.000.000 đồng ( Năm triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày tương đương 176,028%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 8,801 lần, đến 19/4/2021 thời hạn vay 141ngày, anh Tuấn Anh đã trả lãi là 3.400.000 ( Ba triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền được hưởng theo quy định là 386.301,370đ ( Ba trăm tám mươi sáu nghìn ba trăm linh một phẩy ba trăm bảy mươi đồng), số tiền thu lời bất chính là 3.013.698,630 đồng.
Lần 2: Ngày 19/4/2021 anh Tuấn Anh trả cho Dũng 3.000.000đ (Ba triệu đồng), còn nợ lại tiền gốc là 2.000.000đ ( hai triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày tương đương 231,167/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 11,558 lần, đến ngày 17/6/2021 thời hạn vay 60 ngày, anh Tuấn Anh đã trả lãi là 760.000đ ( Bảy trăm sáu mươi nghìn đồng), số tiền được hưởng theo quy định là 65.753,425đ (Sáu mươi năm nghìn bảy trăm năm mươi ba phẩy bốn trăm hai mươi năm đồng), số tiền thu lời bất chính là 694.246,575 đồng.
Đến nay Phạm Tuấn A chưa thanh toán số tiền vay gốc 2.000.000 đồng.
8. Đặng Quốc D cho chị Lê Thu H vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 20/3/2021 Dũng cho chị Hà vay số tiền 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng), với lãi suất là 3.000đ/1 triệu/ngày tương đương với lãi suất 109,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 5,475 lần, đến 30/3/2021 thời hạn vay 11ngày, chị Hà đã phải trả số tiền lãi là 330.000đ ( Ba trăm ba mươi ba nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là 60.273,973đ ( Sáu mươi nghìn hai trăm bảy mươi ba phẩy chín trăm bảy mươi ba đồng, số tiền thu lời bất chính là 269.726,027 đồng. Số tiền gốc 10.000.000đ chị Hà đã thanh toán cho Dũng
Lần 2: Ngày 31/3/2021 sau khi thanh toán khoản vay trên. Dũng tiếp tục cho Hà vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), với lãi suất 3.000đ/1 triệu/ngày tương đương với lãi suất 231,167%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 5,475 lần,đến 28/6/2021 thời hạn vay 90 ngày, chị Hà đã phải trả số tiền lãi là 2.700.000đ ( Hai triệu bảy trăm nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là 65.753,425đ (Sáu mươi năm nghìn bảy trăm năm mươi ba phẩy bốn trăm hai mươi năm đồng), số tiền thu lời bất chính là 694.246,575đ ( Sáu trăm chín mươi tư nghìn hai trăm bốn mươi sáu phẩy năm trăm bảy mươi năm đồng).
Đến nay chị Hà đã thanh toán số tiền gốc 10.000.000đ cho Đặng Quốc D.
9. Ngày 03/12/2020 Đặng Quốc D cho chị Hoàng Thị T vay số tiền 1.000.000 đồng ( Một triệu đồng) với lãi suất 7.000đ/1 triệu đ/ngày tương đương với lãi suất 250,88%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 12,544 lần, đến ngày 19/02/2021 thời hạn vay là 79 ngày, chị Thủy đã phải trả số tiền lãi là 543.000đ (Năm trăm bốn mươi ba nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là 43.287,671đ (bốn mươi ba nghìn hai trăm tám mươi bảy phẩy sáu trăm bảy mươi mốt đồng), số tiền thu lời bất chính là 499.712,329đ ( Bốn trăm chín mươi chín nghìn bảy trăm mười hai phẩy ba trăm hai mươi chín đồng).
Đến nay số tiền gốc 1.000.000đ chị Thủy đã thanh toán cho Đặng Quốc D 10. Đặng Quốc D cho Nguyễn Minh T vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 19/02/2021 Dũng cho anh Thanh vay số tiền 3.000.000 đồng ( Ba triệu đồng),với lãi suất 3.000đ/1 triệu/ngày tương đương với lãi suất 109,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 5,475 lần, đến 02/3/2021 thời hạn vay 12 ngày, anh Thanh đã trả lãi là 108.000 (Một trăm linh tám đồng), số tiền được hưởng theo quy định là 19.726,027đ ( Mười chín nghìn bảy trăm hai mươi sáu phẩy không trăm hai mươi bảy đồng), số tiền thu lời bất chính là 88.273,973đ (Tám mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi ba phẩy chín trăm bảy mươi ba đồng).
Số tiền gốc 3.000.000đ anh Thanh đã thanh toán cho Dũng.
Lần 2: Ngày 05/3/2021 Dũng cho Thanh vay số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng), với lãi suất 3.000đ/1 triệu/ngày tương đương với lãi suất 109,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 5,475 lần, đến 28/5/2021 thời hạn vay 85 ngày, anh Thanh đã trả lãi là 764.000đ (Bảy trăm sáu mươi tư nghìn đồng), số tiền được hưởng theo quy định là 139.726,027 (Một trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi sáu phẩy không trăm hai mươi bảy đồng), số tiền thu lời bất chính là 625.273,973 đồng.
Số tiền gốc 3.000.000đ anh Thanh đã thanh toán cho Dũng.
Lần 3: Ngày 10/6/2021 Dũng tiếp tục cho anh Thanh vay 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, đến 12/6/2021 anh Thanh tất toán khoản vay này nên Dũng không lấy tiền lãi.
Lần 4: Ngày 22/6/2021 Dũng cho anh Thanh vay 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, khoản vay này chưa kịp thu lãi. Sau đó Thanh đã tất toán khoản vay trên.
11. Đặng Quốc D cho anh Nguyễn Thành L vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 17/02/2021 Dũng cho anh Luân vay số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, tương đương 109,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 5,475 lần, đến 24/02/2021 thời hạn vay 08 ngày, anh Luân đã trả lãi là 240.000 (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định 43.835,616đ (Bốn mươi ba nghìn tám trăm ba mươi năm phẩy sáu trăm mười sáu đồng), số tiền thu lời bất chính là: 196.164,384 đồng.
Số tiền gốc 10.000.000đ anh Luân đã trả cho Dũng.
Lần 2: Ngày 11/6/2021 Dũng cho anh Luân vay số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần, đến 20/6/2021 thời hạn vay 10 ngày, anh Luân đã trả lãi là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định 54.794,521đ (Năm mươi tư nghìn bảy trăm chín mươi tư phẩy năm trăm hai mươi mốt đồng), số tiền thu lời bất chính là: 445.205,479 đồng.
Số tiền gốc đến nay anh Luân đã thanh toán cho Dũng.
12. Đặng Quốc D cho Vũ Hải N vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 16/02/2021 Dũng cho anh Nam vay số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần, đến 22/3/2021 thời hạn vay 08 ngày, anh Thanh đã trả lãi là 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định 153.424,658đ (Một trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi bốn phẩy sáu trăm năm mươi tám đồng), số tiền thu lời bất chính là: 1.246.575,342 đồng.
Lần 2: Ngày 16/02/2021 Dũng cho anh Nam vay số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần, đến 22/3/2021 thời hạn vay 08 ngày, anh Nam đã trả lãi là 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định 153.424,658đ (Một trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi bốn phẩy sáu trăm năm mươi tám đồng), số tiền thu lời bất chính là: 1.246.575,342 đồng.
Lần 3: Ngày 16/04/2021 Dũng cho anh Nam vay số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày (gộp với tiền gốc với khoản vay lần 2 thành) tổng số tiền gốc: 10.000.000đ, tương đương lãi suất 182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 7,613 lần, đến 20/5/2021 thời hạn vay 35 ngày, anh Nam đã trả lãi là 1.460.000đ (Một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định 191.780,822đ (Một trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi phẩy tám trăm hai mươi hai đồng), số tiền thu lời bất chính là: 1.268.219,178 đồng.
Số tiền gốc 10.000đ anh Nam đã thanh toán cho Dũng.
Lần 4: Ngày 22/6/2021 Dũng cho anh Nam vay số tiền 6.000.000 đồng
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
BẢN ÁN 09/2022/HSST NGÀY 26/01/2022 VỀ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ
Ngày 26/01/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 161/2021/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2021/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 12 năm 2021 đối với:
Bị cáo Đặng Quốc D, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Số nhà **, tổ 10, phường PL, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Quốc Hồng; Con bà Mai Thị Loan; Có vợ là Nguyễn Thu H; Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/6/2021 đến ngày 02/7/2021, bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thu H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số nhà **, tổ 10, phường PL, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Có mặt tại phiên tòa).
2. Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ N, phường TM, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Anh Vũ Hải N, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ 12, phường H, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
4. Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Phố B, xã M, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
5. Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số nhà **, ngõ 11, đường L, tổ 10, phường Phương Lâm, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
6. Anh Bùi Xuân T, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ 2, phường Q, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
7. Chị Bùi Thị C, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ 16, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
8. Chị Đinh Thị T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ 9, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
9. Anh Phan Tuấn A, sinh năm 1991; Địa chỉ: Xóm X, xã H, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
10. Ông Nguyễn Trần Đ, sinh năm 1976; Địa chỉ: Xóm D, xã L, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
11. Bà Vũ Thị Ngân H, sinh năm 1975; Địa chỉ: Tổ a, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
12. Bà Trần Thị H, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số nhà 4, ngõ **, tổ 10, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
13. Chị Lê Thu H, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số nhà **, tổ 3, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
14. Anh Bùi Đức T, sinh năm 1986; Địa chỉ: Xóm T, phường T, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
15. Chị Phan Thị N, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ **, phường K, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
16. Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Phòng **, chung cư AB, cảng C, phường Thịnh Lang, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
17. Anh Bùi Văn L, sinh năm 1994; Địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
18. Chị Phạm Thị H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số nhà **, tổ 8, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
19. Anh Bùi Văn T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ b. Phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
20. Anh Bùi Đức S, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ T, phường TM, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
21. Anh Bùi Hữu H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ 9, phường Tân Thịnh, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
22. Anh Nguyễn Ngọc C – Sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ b, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
1. Chị Bùi Thị Bích P – Sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ **, phường H, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Tiến L – Sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ **, phường H, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
3. Anh Nguyễn Trung H – Sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ T, phường T, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
4. Anh Ngô Văn T – Sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ **, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
5. Anh Bùi Đức A – Sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ **, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
6. Anh Dương Công D – Sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ TL, phường TM, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
7. Anh Phạm Bá Q – Sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ T, phường TM, phường Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
8. Anh Đinh Viết T – Sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ **, phường TM, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/6/2021, Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Hòa Bình thực hiện Quyết định khám người theo thủ tục hành chính đối với Đặng Quốc D, phát hiện trong điện thoại của Dũng có nhiều tin nhắn về việc cho vay lãi. Cùng ngày, Đặng Quốc D đến cơ quan công an đầu thú về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Trên cơ sở các tài liệu điều tra xác định: Đặng Quốc D sử dụng nguồn tiền của cá nhân, thực hiện hành vi cho vay lãi nặng từ khoảng giữa năm 2018, tại nhà ở thuộc tổ 10, phường Phương Lâm, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Tùy vào mối quan hệ và hình thức vay mà Dũng đưa ra mức thỏa thuận lãi suất khác nhau. Ban đầu Dũng cho khách vay mà không ghi chép lại, chỉ ghi nhớ để thu tiền lãi và gốc. Đến tháng 11/2020, Dũng mua phần mềm ag.mecash.vn quản lý Cầm đồ trên mạng internet. Dũng tạo tài khoản 0974.274.688 – Cầm đồ 69 để quản lý việc cầm đồ cho vay lãi. Sau khi cho khách vay tiền, thỏa thuận mức lãi suất, vòng đóng tiền lãi, Dũng cập nhật thông tin vào trong phần mềm với trang quản lý tại máy tính tại nhà Dũng.. Với phương thức như trên, Đặng Quốc D cho nhiều người vay với mức lãi suất khác nhau.
Cụ thể:
* Cho vay mức lãi suất vượt quá 5 lần lãi suất cho phép (20%) theo quy định của Bộ luật dân sự:
Đặng Quốc D cho 14 người vay với mức lãi suất từ 109,5%/năm – 255,5%/ năm vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự ( 20%) từ 5,475 lần - 12,7 lần, cụ thể:
1. Ngày 27/11/2020 Đặng Quốc D cho chị Bùi Thị C vay số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) với lãi suất 6.000đ/1 triệu đ/ngày tương đương với lãi suất 214.182%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 10,709 lần, đến ngày 14/6/2021 thời hạn vay là 200 ngày, chị Cảnh đã phải trả số tiền lãi là 5.868.000đ (năm triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là 547.945,205đ (năm trăm bốn mươi bảy nghìn chín trăm bốn mươi lăm phẩy hai trăm linh năm đồng), số tiền thu lời bất chính là 5.320.054,795đ ( năm triệu ba trăm hai mươi nghìn không trăm năm mươi tư phẩy bày trăm chín mươi lăm đồng).
Đến nay số tiền gốc 5.000.000đ chị Cảnh đã thanh toán cho Đặng Quốc D.
2. Đặng Quốc D cho chị Đinh Thị T vay các khoản tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 14/12/2020 Dũng cho chị Thắm vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), với lãi suất 6.000đ/1 triệu/ngày tương đương với lãi suất 219%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 10,95 lần, đến ngày 23/3/2021 thời hạn vay là 100 ngày, Chị Thắm đã phải trả số tiền lãi là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là 547.945,205đ ( năm trăm bốn mươi bảy nghìn chín trăm bốn mươi lăm phẩy hai trăm linh năm đồng), số tiền thu lời bất chính là 55.452.054,795 đồng.
Lần 2: Ngày 19/01/2021 Dũng tiếp tục cho chị Thắm vay số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), lãi suất 6.000đ/1 triệu/ngày tương đương 219%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 10,95 lần, đến 22/3/2021 thời hạn vay 63 ngày, chị Thắm đã trả lãi số tiền lãi là 3.780.000đ ( Ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng). Số tiền lãi được thu theo quy định là 345.205,479đ ( Ba trăm bốn mươi năm nghìn hai trăm linh năm phẩy bốn trăm bảy mươi chín đồng), số tiền thu lời bất chính là 3.434.794.521 đồng.
Lần 3: Ngày 22/3/2021 chị Thắm xin gộp tiền gốc 02 khoản vay (lần 1 + lần 2) thành số tiền vay mới là 20.000.000 đ ( hai mươi triệu đồng), lãi suất vẫn như thỏa thuận trước, tương đương với lãi suất 214.438%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 10,722 lần, đến 09/6/2021 thời hạn vay 80 ngày. Chị Thắm đã trả tiền lãi là 9.400.000đ ( Chín triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là 876.712,329đ ( Tám trăm bảy mươi sáu nghìn bảy trăm mười hai phẩy ba trăm hai mươi chín đồng), số tiền thu lời bất chính là 8.523.287,671 đồng.
Số tiền gốc 20.000.000đ chị Thắm đã thanh toán cho Dũng.
3. Đặng Quốc D cho chị Phan Thị N vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 04/12/2020 Dũng cho chị Ngọc vay số tiền 15.000.000 đồng ( Mười năm triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 5.000đ/1 triệu/ngày, tương đương 182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần,đến 24/02/2021 thời hạn vay 83 ngày. Chị Ngọc đã trả lãi là 6.225.000đ ( Sáu triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định 682.191,781đ ( Sáu trăm tám mươi hai nghìn, một trăm chín mươi mốt phẩy bảy trăm tám mươi mốt đồng), số tiền thu lời bất chính là: 5.542.808,219 đồng.
Số tiền gốc 15.000.000đ chị Ngọc đã trả cho Dũng.
Lần 2: Ngày 06/4/2021 Dũng cho chị Ngọc vay số tiền 5.000.000 đồng ( Năm triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 5.000đ/1 triệu/ngày tương đương 194,667%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,733 lần, đến 05/05/2021 thời hạn vay 30 ngày Chị Ngọc đã trả lãi là 800.000đ ( Tám trăm nghìn đồng), số tiền lãi được hưởng theo quy định 82.191,781đ (Tám mươi hai nghìn, một trăm chín mươi mốt phẩy bảy trăm tám mươi mốt đồng), số tiền thu lời bất chính là 717.808,219 đồng.
Lần 3: Ngày 06/5/2021 Dũng cho chị Ngọc vay thêm 5.000.000 đồng ( Năm triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 3.000đ/1 triệu/ngày tương đương182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần. Đồng thời xin gộp tiền gốc 02 khoản vay ( lần 2 + lần 3) thành số tiền vay 10.000.000đ (mười triệu đồng), đến 25/05/2021 thời hạn vay 20 ngày. Chị Ngọc đã lãi là 1.000.000đ ( Một triệu đồng), số tiền lãi được hưởng theo quy định là 242.424,242đ (Hai trăm bốn mươi hai nghìn bốm trăm hai mười bốn phẩy hai trăm bốn mươi hai đồng), Số tiền thu lời bất chính là 757.257,758 đồng.
Lần 4: Ngày 26/5/2021 chị Ngọc tiếp tục vay thêm 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 3.000đ/1 triệu/ngày tương đương 182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần. Đồng thời xin gộp tiền gốc 02 khoản vay ( lần 3 + lần 4) thành số tiền vay 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), đến 24/6/2021 thời hạn vay 30 ngày. Chị Ngọc đã trả lãi là 2.250.000đ ( Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền lãi được hưởng theo quy định là 246.575.342đ (Hai trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm bảy mươi lăm phẩy ba trăm bốn mươi hai đồng), số tiền thu lời bất chính là 2.003.424,658 đồng.
4. Đặng Quốc D cho anh Bùi Xuân T vay số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 5.000đ/1 triệu/ngày, tương đương 178,776%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 8,939 lần. Đến 20/6/2021 thời hạn vay 210 ngày, anh Thành đã trả lãi là 7.200.000đ (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng), số tiền lãi được hưởng theo quy định là 805.479,452đ (Tám trăm linh năm nghìn bốn trăm bảy mươi chín phẩy bốn trăm năm mươi hai đồng), số tiền thu lời bất chính là 6.394.520,548 đồng.
5. Ngày 05/12/2020 Dũng cho chị Vũ Thị Ngân H vay số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 5.000đ/1 triệu/ngày tương đương182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần, đến 22/6/2021 thời hạn vay 200 ngày. Chị Huyền đã trả lãi là 7.000.000đ ( Bảy triệu đồng). Số tiền lãi hưởng theo quy định là 767.123,288đ (Bảy trăm sáu mươi bẩy nghìn một trăm hai mươi bai phẩy hai trăm tam mươi tám đồng, số tiền thu lời bất chính là 6.232.876,712 đồng.
Hiện chị Huyền đang còn nợ số tiền vay gốc là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
6. Đặng Quốc D cho anh Nguyễn Trần Đ vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 06/3/2021 Dũng cho anh Đông vay số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 6.000đ/1 triệu/ngày tương đương 208,571%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 10,429 lần, đến 26/3/2021 thời hạn vay 21 ngày, anh Đông đã trả lãi là 2.400.000 (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền được hưởng theo quy định là 230.136,986 (Hai trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi sáu phẩy chín trăm tám mươi sáu đồng), số tiền thu lời bất chính là 2.169.863,014 đồng.
Lần 2: Ngày 26/3/2021 Đông trả cho Dũng 10.000.000đ tiền gốc đối với khoản nợ lần 1, còn nợ lại số tiền gốc là 10.000.000đ ( mười triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 6.000đ/1 triệu/ngày tương đương 255,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 12,775 lần, đến 31/3/2021 thời hạn vay 06 ngày, anh Đông đã trả lãi là 420.000đ (Bốn trăm hai mươi nghìn), số tiền được hưởng theo quy định là 32.876,712đ (Ba mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi sáu phẩy bảy trăm mười hai đồng), số tiền thu lời bất chính là 387.123,288 đồng.
Lần 3: Ngày 16/5/2021 Dũng tiếp tục cho anh Đông vay 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 6.000đ/1 triệu/ngày tương đương 219%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 10,95 lần, đến 24/6/2021 thời hạn vay 40 ngày, anh Đông đã trả lãi là 4.800.000đ (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng), số tiền được hưởng theo quy định là 438.356,164đ (Bốn trăm ba mươi tám nghìn ba trăm năm mươi sáu phẩy một trăm sáu mươi tư đồng), số tiền thu lời bất chính là 4.361.643,836 đồng.
Hiện tại anh Đông đã trả hết tiền gốc cho Dũng 7. Đặng Quốc D cho anh Phạm Tuấn A vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 30/11/2020 Dũng cho anh Tuấn Anh vay số tiền 5.000.000 đồng ( Năm triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày tương đương 176,028%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 8,801 lần, đến 19/4/2021 thời hạn vay 141ngày, anh Tuấn Anh đã trả lãi là 3.400.000 ( Ba triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền được hưởng theo quy định là 386.301,370đ ( Ba trăm tám mươi sáu nghìn ba trăm linh một phẩy ba trăm bảy mươi đồng), số tiền thu lời bất chính là 3.013.698,630 đồng.
Lần 2: Ngày 19/4/2021 anh Tuấn Anh trả cho Dũng 3.000.000đ (Ba triệu đồng), còn nợ lại tiền gốc là 2.000.000đ ( hai triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày tương đương 231,167/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 11,558 lần, đến ngày 17/6/2021 thời hạn vay 60 ngày, anh Tuấn Anh đã trả lãi là 760.000đ ( Bảy trăm sáu mươi nghìn đồng), số tiền được hưởng theo quy định là 65.753,425đ (Sáu mươi năm nghìn bảy trăm năm mươi ba phẩy bốn trăm hai mươi năm đồng), số tiền thu lời bất chính là 694.246,575 đồng.
Đến nay Phạm Tuấn A chưa thanh toán số tiền vay gốc 2.000.000 đồng.
8. Đặng Quốc D cho chị Lê Thu H vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 20/3/2021 Dũng cho chị Hà vay số tiền 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng), với lãi suất là 3.000đ/1 triệu/ngày tương đương với lãi suất 109,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 5,475 lần, đến 30/3/2021 thời hạn vay 11ngày, chị Hà đã phải trả số tiền lãi là 330.000đ ( Ba trăm ba mươi ba nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là 60.273,973đ ( Sáu mươi nghìn hai trăm bảy mươi ba phẩy chín trăm bảy mươi ba đồng, số tiền thu lời bất chính là 269.726,027 đồng. Số tiền gốc 10.000.000đ chị Hà đã thanh toán cho Dũng
Lần 2: Ngày 31/3/2021 sau khi thanh toán khoản vay trên. Dũng tiếp tục cho Hà vay số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng), với lãi suất 3.000đ/1 triệu/ngày tương đương với lãi suất 231,167%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 5,475 lần,đến 28/6/2021 thời hạn vay 90 ngày, chị Hà đã phải trả số tiền lãi là 2.700.000đ ( Hai triệu bảy trăm nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là 65.753,425đ (Sáu mươi năm nghìn bảy trăm năm mươi ba phẩy bốn trăm hai mươi năm đồng), số tiền thu lời bất chính là 694.246,575đ ( Sáu trăm chín mươi tư nghìn hai trăm bốn mươi sáu phẩy năm trăm bảy mươi năm đồng).
Đến nay chị Hà đã thanh toán số tiền gốc 10.000.000đ cho Đặng Quốc D.
9. Ngày 03/12/2020 Đặng Quốc D cho chị Hoàng Thị T vay số tiền 1.000.000 đồng ( Một triệu đồng) với lãi suất 7.000đ/1 triệu đ/ngày tương đương với lãi suất 250,88%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 12,544 lần, đến ngày 19/02/2021 thời hạn vay là 79 ngày, chị Thủy đã phải trả số tiền lãi là 543.000đ (Năm trăm bốn mươi ba nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định là 43.287,671đ (bốn mươi ba nghìn hai trăm tám mươi bảy phẩy sáu trăm bảy mươi mốt đồng), số tiền thu lời bất chính là 499.712,329đ ( Bốn trăm chín mươi chín nghìn bảy trăm mười hai phẩy ba trăm hai mươi chín đồng).
Đến nay số tiền gốc 1.000.000đ chị Thủy đã thanh toán cho Đặng Quốc D 10. Đặng Quốc D cho Nguyễn Minh T vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 19/02/2021 Dũng cho anh Thanh vay số tiền 3.000.000 đồng ( Ba triệu đồng),với lãi suất 3.000đ/1 triệu/ngày tương đương với lãi suất 109,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 5,475 lần, đến 02/3/2021 thời hạn vay 12 ngày, anh Thanh đã trả lãi là 108.000 (Một trăm linh tám đồng), số tiền được hưởng theo quy định là 19.726,027đ ( Mười chín nghìn bảy trăm hai mươi sáu phẩy không trăm hai mươi bảy đồng), số tiền thu lời bất chính là 88.273,973đ (Tám mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi ba phẩy chín trăm bảy mươi ba đồng).
Số tiền gốc 3.000.000đ anh Thanh đã thanh toán cho Dũng.
Lần 2: Ngày 05/3/2021 Dũng cho Thanh vay số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng), với lãi suất 3.000đ/1 triệu/ngày tương đương với lãi suất 109,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 5,475 lần, đến 28/5/2021 thời hạn vay 85 ngày, anh Thanh đã trả lãi là 764.000đ (Bảy trăm sáu mươi tư nghìn đồng), số tiền được hưởng theo quy định là 139.726,027 (Một trăm ba mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi sáu phẩy không trăm hai mươi bảy đồng), số tiền thu lời bất chính là 625.273,973 đồng.
Số tiền gốc 3.000.000đ anh Thanh đã thanh toán cho Dũng.
Lần 3: Ngày 10/6/2021 Dũng tiếp tục cho anh Thanh vay 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, đến 12/6/2021 anh Thanh tất toán khoản vay này nên Dũng không lấy tiền lãi.
Lần 4: Ngày 22/6/2021 Dũng cho anh Thanh vay 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, khoản vay này chưa kịp thu lãi. Sau đó Thanh đã tất toán khoản vay trên.
11. Đặng Quốc D cho anh Nguyễn Thành L vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 17/02/2021 Dũng cho anh Luân vay số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, tương đương 109,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 5,475 lần, đến 24/02/2021 thời hạn vay 08 ngày, anh Luân đã trả lãi là 240.000 (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định 43.835,616đ (Bốn mươi ba nghìn tám trăm ba mươi năm phẩy sáu trăm mười sáu đồng), số tiền thu lời bất chính là: 196.164,384 đồng.
Số tiền gốc 10.000.000đ anh Luân đã trả cho Dũng.
Lần 2: Ngày 11/6/2021 Dũng cho anh Luân vay số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần, đến 20/6/2021 thời hạn vay 10 ngày, anh Luân đã trả lãi là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định 54.794,521đ (Năm mươi tư nghìn bảy trăm chín mươi tư phẩy năm trăm hai mươi mốt đồng), số tiền thu lời bất chính là: 445.205,479 đồng.
Số tiền gốc đến nay anh Luân đã thanh toán cho Dũng.
12. Đặng Quốc D cho Vũ Hải N vay số tiền cụ thể như sau:
Lần 1: Ngày 16/02/2021 Dũng cho anh Nam vay số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần, đến 22/3/2021 thời hạn vay 08 ngày, anh Thanh đã trả lãi là 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định 153.424,658đ (Một trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi bốn phẩy sáu trăm năm mươi tám đồng), số tiền thu lời bất chính là: 1.246.575,342 đồng.
Lần 2: Ngày 16/02/2021 Dũng cho anh Nam vay số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 9,125 lần, đến 22/3/2021 thời hạn vay 08 ngày, anh Nam đã trả lãi là 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định 153.424,658đ (Một trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi bốn phẩy sáu trăm năm mươi tám đồng), số tiền thu lời bất chính là: 1.246.575,342 đồng.
Lần 3: Ngày 16/04/2021 Dũng cho anh Nam vay số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), với lãi suất 5.000đ/1 triệu/ngày (gộp với tiền gốc với khoản vay lần 2 thành) tổng số tiền gốc: 10.000.000đ, tương đương lãi suất 182,5%/năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự là 7,613 lần, đến 20/5/2021 thời hạn vay 35 ngày, anh Nam đã trả lãi là 1.460.000đ (Một triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng), số tiền lãi được thu theo quy định 191.780,822đ (Một trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi phẩy tám trăm hai mươi hai đồng), số tiền thu lời bất chính là: 1.268.219,178 đồng.
Số tiền gốc 10.000đ anh Nam đã thanh toán cho Dũng.
Lần 4: Ngày 22/6/2021 Dũng cho anh Nam vay số tiền 6.000.000 đồng
